CHINH PHU NGÂM - DIỄN NÔM BÙI HẠNH CẨN
Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015
Thứ Hai, 17 tháng 3, 2014
VỀ TẬP THƠ “ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU” - BẢN DỊCH CỦA CỤ BÙI HẠNH CẨN.
VỀ TẬP THƠ “ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU” - BẢN DỊCH CỦA CỤ BÙI HẠNH CẨN.
(chép lại bài đăng ở blog NoiLieuhaha)
(chép lại bài đăng ở blog NoiLieuhaha)
Tập thơ in màu (bìa xanh) và bản thảo của cụ Bùi Hạnh Cẩn
Thơ
Đường luật hay thơ Luật Đường là một di sản văn hóa quý giá không chỉ của người Hán. Thơ Đường Luật có hai mảng lớn có giá trị cao đó là thơ THẤT NGÔN BÁT CÚ (tám câu bảy chữ) và thơ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT (bốn câu bảy chữ); Các thể thơ Đường Luật khác như THƠ NĂM CHỮ (ngũ ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn bát cú), thơ YẾT HẬU (ba câu đầu năm chữ, câu cuối chỉ có một chữ) cũng rất có giá trị nhưng không phổ biến bằng hai loại đầu. Trong loại thơ Đường Luật thì thơ BỐN CÂU (như cụ Bùi Hạnh Cẩn gọi loại thơ thất ngôn tứ tuyệt) tuy niêm luật không “niêm” một cách chằng chịt như ở thể thơ THẤT NGÔN BÁT CÚ (người ta nói Thất ngôn tứ tuyệt là Thất ngôn bát cú bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối, chỉ còn “niêm” “buộc” giữa câu 2 và 3) nhưng số câu chữ đã giảm đi một nửa khiến việc chuyển tải thông tin một tình cảnh, một sự việc trở nên khó hơn do phải tìm lời diễn đạt sao cho rõ ràng, dễ hiểu và tiết kiệm. Chính vì vậy việc dịch các bài thơ của thể này sang tiếng Việt cho tròn trịa đúng nghĩa đúng vần đúng thể là công việc rất khó nhọc. Thơ Đường luật rất thịnh hành thời Đường và Tống. Trong một bình chọn được trang mạng http://www.xooob.com công bố năm 2012: Mười nhà văn vĩ đại nhất trong mọi thời đại của Trung Quốc đã có tới 6 nhà văn – thơ thuộc thời Đường Tống, đó là các nhà thơ Lý Bạch (triều Đường, xếp thứ 4 theo thời gian), Đỗ Phủ (Đường; thứ 5), Bạch Cư Dị (Đường; 6), Hàn Dũ (Đường; 7), Âu Dương Tu (Tống; 8) và Tô Thức (Tống; 9). Có lẽ vì những lý do về đặc điểm thể thơ và thời đại đã nêu trên mà cụ Bùi Hạnh Cẩn đã chọn dịch 428 bài THƠ BỐN CÂU thời ĐƯỜNG - TỐNG. Trong 442 bài thơ dịch của cụ, một khuynh hướng quán xuyến chặt chẽ đấy là “dịch thơ đúng nghĩa, diễn giải ra tiếng Việt cũng bằng thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt với các luật lệ khắt khe về vần luật (cả đối và vần) và niêm luật của thể thơ này”.
Đây quả là một việc làm hiếm có đối với một người đã qua tuổi chín mươi như cụ nhưng lại rất vĩ đại vì cụ đã dịch thành công cả tập thơ nổi tiếng và đồ sộ như thế này. Cũng cần nói thêm rằng dịch thơ tứ tuyệt sang tiếng Việt theo thể thơ tứ tuyệt không phải chưa có ai làm, mà ở đây cái hiếm thấy là cụ Buì Hạnh Cẩn đã biên dịch cả tập thơ đồ sộ hơn 400 bài trong một giai đoạn lịch sử Trung Hoa cổ dài hơn 500 năm thành thơ tiếng Việt cùng kiểu và rất thành công.
Đường luật hay thơ Luật Đường là một di sản văn hóa quý giá không chỉ của người Hán. Thơ Đường Luật có hai mảng lớn có giá trị cao đó là thơ THẤT NGÔN BÁT CÚ (tám câu bảy chữ) và thơ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT (bốn câu bảy chữ); Các thể thơ Đường Luật khác như THƠ NĂM CHỮ (ngũ ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn bát cú), thơ YẾT HẬU (ba câu đầu năm chữ, câu cuối chỉ có một chữ) cũng rất có giá trị nhưng không phổ biến bằng hai loại đầu. Trong loại thơ Đường Luật thì thơ BỐN CÂU (như cụ Bùi Hạnh Cẩn gọi loại thơ thất ngôn tứ tuyệt) tuy niêm luật không “niêm” một cách chằng chịt như ở thể thơ THẤT NGÔN BÁT CÚ (người ta nói Thất ngôn tứ tuyệt là Thất ngôn bát cú bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối, chỉ còn “niêm” “buộc” giữa câu 2 và 3) nhưng số câu chữ đã giảm đi một nửa khiến việc chuyển tải thông tin một tình cảnh, một sự việc trở nên khó hơn do phải tìm lời diễn đạt sao cho rõ ràng, dễ hiểu và tiết kiệm. Chính vì vậy việc dịch các bài thơ của thể này sang tiếng Việt cho tròn trịa đúng nghĩa đúng vần đúng thể là công việc rất khó nhọc. Thơ Đường luật rất thịnh hành thời Đường và Tống. Trong một bình chọn được trang mạng http://www.xooob.com công bố năm 2012: Mười nhà văn vĩ đại nhất trong mọi thời đại của Trung Quốc đã có tới 6 nhà văn – thơ thuộc thời Đường Tống, đó là các nhà thơ Lý Bạch (triều Đường, xếp thứ 4 theo thời gian), Đỗ Phủ (Đường; thứ 5), Bạch Cư Dị (Đường; 6), Hàn Dũ (Đường; 7), Âu Dương Tu (Tống; 8) và Tô Thức (Tống; 9). Có lẽ vì những lý do về đặc điểm thể thơ và thời đại đã nêu trên mà cụ Bùi Hạnh Cẩn đã chọn dịch 428 bài THƠ BỐN CÂU thời ĐƯỜNG - TỐNG. Trong 442 bài thơ dịch của cụ, một khuynh hướng quán xuyến chặt chẽ đấy là “dịch thơ đúng nghĩa, diễn giải ra tiếng Việt cũng bằng thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt với các luật lệ khắt khe về vần luật (cả đối và vần) và niêm luật của thể thơ này”.
Đây quả là một việc làm hiếm có đối với một người đã qua tuổi chín mươi như cụ nhưng lại rất vĩ đại vì cụ đã dịch thành công cả tập thơ nổi tiếng và đồ sộ như thế này. Cũng cần nói thêm rằng dịch thơ tứ tuyệt sang tiếng Việt theo thể thơ tứ tuyệt không phải chưa có ai làm, mà ở đây cái hiếm thấy là cụ Buì Hạnh Cẩn đã biên dịch cả tập thơ đồ sộ hơn 400 bài trong một giai đoạn lịch sử Trung Hoa cổ dài hơn 500 năm thành thơ tiếng Việt cùng kiểu và rất thành công.
Tập thơ chữ Hán này là sản phẩm tinh thần bất diệt của170 tác giả trải hơn 500 năm lịch sử. Ngoài các nhà thơ lớn trong lịch sử Trung Quốc thời đại đó như đã nêu ở trên, chúng ta sẽ được làm quen với nhiều nhà thơ khác là nhà Quân sự (như Cao Biền, Nhạc Phi, Hoàng Sào); các quan lại cao cấp của triều đình Đường và Tống, thương gia, nhà sư, giới nữ lưu… Với những thành phần tác giả phong phú như vậy cho ta một dải nội dung, chủ đề rất đa dạng mới lạ, có lẽ vì thế tạo ra sự ngỡ ngàng thú vị khi chuyển đọc từ tác giả này sang tác giả khác.
Đọc thơ Bốn câu mà cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch, chúng ta không chỉ bắt gặp và thưởng thức các bài thơ thù tạc “chén chú chén anh” diễn đạt tình cảm của các thi nhân khi gặp nhau, mừng nhau, tiễn nhau khi chia tay về hưu hoặc chuyển đổi sở nhiệm; hơn thế nữa ta sẽ thấy tình yêu say đắm của người xưa, khát vọng công lý, hòa bình, an lạc ở ngay những người cầm quân đi chinh phục hết xứ này sang xứ khác. Cao Biền đã từng đem quân từ phía Bắc đến Long Biên (Hà Nội) đánh thắng quân Nam Chiếu đang chiếm đóng Thăng Long đã phải viết:
Như kim ám dữ tâm tương ước, Bất động chinh kỳ, động tửu kỳ.
Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch là:
Từ nay ngầm với lòng giao ước, Không động cờ quân, động rượu cờ.
Giá những người đang hầm hè độc chiếm biển Đông học thuộc bài học của người xưa Cao Biền thì cũng là phúc đức cho tổ tiên nhà họ, tránh được binh đao cho các dân tộc khác yêu hòa bình và công lý.
Khi Truyện Kiều lần đầu dịch ra tiếng Pháp, người Pháp đã nức nở khen câu thơ
Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường (Nguyễn Du)
Nhưng trước đấy hơn ngàn năm, sư cụ chùa Hàn San đã viết:
Nhất phiết ngọc hồ phân lưỡng đoạn Bán trầm thuỷ để, bán phù không
Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch là
Hồ ngọc một vầng hai nửa cắt,
Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch là:
Từ nay ngầm với lòng giao ước, Không động cờ quân, động rượu cờ.
Giá những người đang hầm hè độc chiếm biển Đông học thuộc bài học của người xưa Cao Biền thì cũng là phúc đức cho tổ tiên nhà họ, tránh được binh đao cho các dân tộc khác yêu hòa bình và công lý.
Khi Truyện Kiều lần đầu dịch ra tiếng Pháp, người Pháp đã nức nở khen câu thơ
Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường (Nguyễn Du)
Nhưng trước đấy hơn ngàn năm, sư cụ chùa Hàn San đã viết:
Nhất phiết ngọc hồ phân lưỡng đoạn Bán trầm thuỷ để, bán phù không
Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch là
Hồ ngọc một vầng hai nửa cắt,
Nửa chìm đáy nước, nửa ngang không. Xuân Diệu khi nói đến làm thế nào để có thơ hay, nhấn mạnh đến hình thức "Thơ phải thật nhiều trăng, thật nhiều mây gió", thì từ ngàn năm trước, nữ sỹ Chu Thục Chân thời Tống đã có cảm nhận thật thú vị với đầu đề bài thơ được cụ Cẩn dịch là VỐC NƯỚC THẤY TRĂNG Ở TAY:
Vô sự giang đầu lộng bích ba
Phân minh chưởng thượng kiến Hằng Nga
( Các thuỷ nguyệt tại thủ) Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch:
Vô sự đầu sông đùa sóng biếc Trên tay rành thấy dáng cô Hằng
Cảm nhận thật thú vị và độc đáo, cả người viết và người dịch đều tài!
Người Việt chúng ta đã được tiếp xúc với nhiều bài “thơ bốn câu” nổi tiếng thời Đường - Tống được dịch ra tiếng Việt; Đa số các bài dịch đã đi vào lòng người lại là các bài thơ tứ tuyệt được “diễn nôm” bằng thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát. Tôi nhớ mãi một bài thơ của Tô Thức “Đùa vui với con”
Nhân giai dưỡng tử vọng thông minh,
Ngã bị thông minh ngộ nhất sinh.
Duy nguyện hài nhi ngu thả lỗ,
Vô tai vô nạn đáo công khanh*.
Bài thơ được diễn Nôm bằng thể thơ lục bát : Sinh con ai cũng muốn thông minh
Ta thông minh lại gặp rành gian nan
Mong cho con cháu ngu tràn
Ngu càng khỏi nạn lại làm quan to.
(Cũng không nhớ là bài thơ do ai dịch nữa, đăng báo Nam Phong được sưu tầm lại trong tập “Thơ cười Việt Nam” từ thời bao cấp.)
Rồi đến bài thơ nổi tiếng khác là "Phong Kiều dạ bạc" của Trương Kế:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô* thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Cũng được Nguyễn Hàm Ninh (có người cho là của Tản Đà) diễn Nôm bằng lục bát khá thành công:
Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Bản dịch (thật) của Tản Đà cũng là lục bát: Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Rồi đến bài “Đề Đô thành nam” của Thôi Hộ Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Cũng được Nguyễn Du diễn nôm thành
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Có lẽ dịch thất ngôn tứ tuyệt ra tiếng Việt dùng đúng thể thất ngôn tứ tuyệt theo Đường Luật khó khăn hơn nhưng đấy mới là dịch thơ một cách chính xác và trung thành; cụ Bùi Hạnh Cẩn đã chọn hướng này để dịch hơn 400 bài thơ bốn câu thời Đường Tống và cụ đã thành công. Có vị Tiến Sỹ - nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam của Pháp có nhận xét thú vị, đại ý là ”Dịch thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương ra tiếng Việt thì cụ Bùi Hạnh Cẩn là người dịch chính xác nhất và thành công nhất”. Nhưng cụ Cẩn đâu chỉ dịch riêng thơ của Hồ Xuân Hương. Kỷ niệm “Một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội” , khi đã qua tuổi chín mươi, cụ đã dịch tập thơ của Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát và văn của Đoàn thị Điếm, được Nhà xuất bản Văn Học in thành một tập với nhãn sách “THĂNG LONG THI VĂN TUYỂN”, sách dày hơn 300 trang, có tiếng vang mạnh mẽ trong văn giới (xem ảnh dưới cùng của bài viết) .
Xin chân thành chúc cụ Bùi Hạnh Cẩn, cây đa cây đề trong làng văn học nghệ thuật Việt Nam sống lâu, sống khỏe về cả thể chất và tinh thần, sáng tạo thêm nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc cho người, cho đời.
Để đọc tập thơ ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU trên trang mạng Slideshare.net, theo đường link này:
Phần 1:
http://www.slideshare.net/honglinhha7/tho-t-bui-hanhcan1-facebook#
Phần 2:
http://www.slideshare.net/honglinhha7/ng-tng-th-bn-cu-phn-2#
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô* thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Cũng được Nguyễn Hàm Ninh (có người cho là của Tản Đà) diễn Nôm bằng lục bát khá thành công:
Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Bản dịch (thật) của Tản Đà cũng là lục bát: Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Rồi đến bài “Đề Đô thành nam” của Thôi Hộ Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Cũng được Nguyễn Du diễn nôm thành
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Có lẽ dịch thất ngôn tứ tuyệt ra tiếng Việt dùng đúng thể thất ngôn tứ tuyệt theo Đường Luật khó khăn hơn nhưng đấy mới là dịch thơ một cách chính xác và trung thành; cụ Bùi Hạnh Cẩn đã chọn hướng này để dịch hơn 400 bài thơ bốn câu thời Đường Tống và cụ đã thành công. Có vị Tiến Sỹ - nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam của Pháp có nhận xét thú vị, đại ý là ”Dịch thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương ra tiếng Việt thì cụ Bùi Hạnh Cẩn là người dịch chính xác nhất và thành công nhất”. Nhưng cụ Cẩn đâu chỉ dịch riêng thơ của Hồ Xuân Hương. Kỷ niệm “Một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội” , khi đã qua tuổi chín mươi, cụ đã dịch tập thơ của Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát và văn của Đoàn thị Điếm, được Nhà xuất bản Văn Học in thành một tập với nhãn sách “THĂNG LONG THI VĂN TUYỂN”, sách dày hơn 300 trang, có tiếng vang mạnh mẽ trong văn giới (xem ảnh dưới cùng của bài viết) .
Xin chân thành chúc cụ Bùi Hạnh Cẩn, cây đa cây đề trong làng văn học nghệ thuật Việt Nam sống lâu, sống khỏe về cả thể chất và tinh thần, sáng tạo thêm nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc cho người, cho đời.
Để đọc tập thơ ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU trên trang mạng Slideshare.net, theo đường link này:
Phần 1:
http://www.slideshare.net/honglinhha7/tho-t-bui-hanhcan1-facebook#
Phần 2:
http://www.slideshare.net/honglinhha7/ng-tng-th-bn-cu-phn-2#
Bìa tập thơ ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU in màu là ảnh do Hạt Cát chụp một góc Hồ Tây gần nơi cụ Bùi Hạnh Cẩn đang sống và sáng tác.
Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013
Vu vơ
Mấy
kẻ thi nhau diễn vẻ khùng
Mắt già ngó thấy thảy dửng dưng
Chân tay lẩy bẩy còn ra dáng
Mắt mũi kèm nhèm vẫn cố công
Sốt tiết… nén lòng chờ chuột múa
Sôi me… nín thở đợi voi lồng.
Dẹp ngay trò xiếc ba xu lại
Bà lão điên lên, chớ có hòng!
Mắt già ngó thấy thảy dửng dưng
Chân tay lẩy bẩy còn ra dáng
Mắt mũi kèm nhèm vẫn cố công
Sốt tiết… nén lòng chờ chuột múa
Sôi me… nín thở đợi voi lồng.
Dẹp ngay trò xiếc ba xu lại
Bà lão điên lên, chớ có hòng!
NHÀN CA ( hoạ thơ Phú Đoan)
Thoáng chốc đầy vơi bóng nguyệt già
Thu tàn đông tạ, ánh xuân qua
Gõ bồn Trang Tử mơ hồ điệp
Vung gậy Xích Tùng mộng Tố Nga
Chuốc chén lung linh trời ảo diệu
Gieo vần sóng sánh đât giao hoà
Ung dung tự tại cười khinh khoái
Hào sảng ngân vang khúc tráng ca
( La Thuỵ )
Thu tàn đông tạ, ánh xuân qua
Gõ bồn Trang Tử mơ hồ điệp
Vung gậy Xích Tùng mộng Tố Nga
Chuốc chén lung linh trời ảo diệu
Gieo vần sóng sánh đât giao hoà
Ung dung tự tại cười khinh khoái
Hào sảng ngân vang khúc tráng ca
( La Thuỵ )
Răng long, tóc bạc vẫn chưa già
Năm cận tháng chày lặng lẽ qua
Nhấp chén rượu nồng mong bạn hữu
Ngó làn mây biếc mộng Tiên Nga
Ngắm tranh Tố nữ lồng trăng khuyết
Nghe nhạc Nghê thường nhịp phách hoà
Thái thượng luyện đan lò bát quái
Mình ta học hát điệu dân ca
HC
Năm cận tháng chày lặng lẽ qua
Nhấp chén rượu nồng mong bạn hữu
Ngó làn mây biếc mộng Tiên Nga
Ngắm tranh Tố nữ lồng trăng khuyết
Nghe nhạc Nghê thường nhịp phách hoà
Thái thượng luyện đan lò bát quái
Mình ta học hát điệu dân ca
HC
PHẬN GÁI (hoạ thơ BÌNH NGUYÊN)
PHẬN GÁI
Trời đã sinh em phận má hồng
Điểm tô rạng rỡ cả trời trong
Cho đời linh hoạt thêm màu sắc
Để kiếp trầm luân bớt vị nồng
Chăm chỉ rèn mình qua mấy ải
Chuyên cần giũa chí giữa ngàn sông
Chỉ mong chọn được người quân tử
Lừng lẫy năm châu xứng
tấm chồng./
BN
BN
Bõ
công chuốt lục với tô hồng
Má đỏ, tóc huyền, mắt biếc trong
Tứ đức tam tòng theo pháp bảoMá đỏ, tóc huyền, mắt biếc trong
Công dung ngôn hạnh giữ tình nồng
Rách lành giúp bạn liều băng núi
No đói vì con nguyện vượt sông
Nhĩ nữ một đời luôn nguyện ước
Thuyền quyên trọn kiếp rạng danh chồng
HC
LỚP HỌC BÌNH DÂN
LỚP HỌC BÌNH DÂN.
Trăng lên vang xóm học A Ê.
Đầu dãy cuối bàn tô nét C.
Thầy gắng dạy thêm câu chữ S.
Trò siêng chăm học tiếp vần B.
Thôn Tiền vài cụ khom lưng H.
Xóm Hậu dăm chàng, tay duỗi T.
Góp sức xóa nhanh người đói Z.
Hết giờ vẫn cố viết thêm Đ
Hiển Lê
Trăng lên vang xóm học A Ê.
Đầu dãy cuối bàn tô nét C.
Thầy gắng dạy thêm câu chữ S.
Trò siêng chăm học tiếp vần B.
Thôn Tiền vài cụ khom lưng H.
Xóm Hậu dăm chàng, tay duỗi T.
Góp sức xóa nhanh người đói Z.
Hết giờ vẫn cố viết thêm Đ
Hiển Lê
Tự vịnh mình
Hay nghịch nên chi bị bạn Ê
Nép sau lưng chúng cố xàng C
Mẹ rằng: ngữ ấy may làm S
Cha hét: loại này chỉ dắt B
Ra phố máy phen xung kép H
Lên rừng vài bận trộm sừng T
Nép sau lưng chúng cố xàng C
Mẹ rằng: ngữ ấy may làm S
Cha hét: loại này chỉ dắt B
Ra phố máy phen xung kép H
Lên rừng vài bận trộm sừng T
Áo quần tơi tả co ro Z
Lủi thủi một mình đứng dệ ĐHC
Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013
TỪ BỮA CƠM CHIỀU ( Họa thơ thày CAO )
Bầm xoài ươm ướp nấm kho
tương
Chua ngọt vừa thôi khỏi
chút đường
Bổ béo chỉ cần vuông đậu
hủ
Ngon lành đâu đợi dĩa cơm
sườn
Bữa chay đạm bạc thường
an tọa
Lối hẹp cầu kỳ mãi khổ
vương
Chơn đạo ta thiền trong
ẩm thực
Còn hơn theo dấu lạc muôn
phương.
Ót chín dầm thêm chút ít tương
Muốn thơm đem thắng nửa thìa đường
Ngày ăn ba độ rau ninh súp
Đêm thở dăm hơi khí cuộn sườn
Gạo lứt muối mè cơm xóm vắng
Yến sào, vi cá tiệc quân vương.
Trăng thanh gió mát thân an lạc
Hồn dõi mây ngàn bay bốn phương!
Muốn thơm đem thắng nửa thìa đường
Ngày ăn ba độ rau ninh súp
Đêm thở dăm hơi khí cuộn sườn
Gạo lứt muối mè cơm xóm vắng
Yến sào, vi cá tiệc quân vương.
Trăng thanh gió mát thân an lạc
Hồn dõi mây ngàn bay bốn phương!
Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013
HỌA CÙNG LÝ ĐỨC QUỲNH: Thực hư
Xuân là thực là hư
SỰ ĐỜI THỰC THỰC VỚI HƯ HƯ
AI BIẾT RẰNG ĐÂU CHÂN GIẢ CHỪ?
XUÂN ĐẾN, XUÂN ĐI HẰNG HÓA HÓA
TRĂNG TRÒNG TRĂNG KHUYẾT VẪ NHƯ NHƯ
XUÂN VỀ HOA RỘ MUÔN HÌNH TƯỚNG
TÌNH ĐẤEN Ý SAY VẠN TƯỞNG TƯ
CHO DẪU EM CÙNG XUÂN Ở ĐÓ
ÂU LÀ THỰC THỰC VỚI HƯ HƯ
( Người Nguyên Thủy)
THỤC HƯ NHỊP ĐIỆU
Sương khói ánh nhòa quyện ảo hư
Mơ ươm hạnh ngộ mộng xuân chừ
Vườn tình hiển hiện,chưa cùng với
Ngõ ý thẳm sâu, khó tận như
Trăng nguyện thoát y bày diễm tuyệt
Lòng trơ bó bột nhốt sầu tư
Ngàn dâu xanh hái vàng tơ óng
Điệu vũ Nghê thường nhịp thực hư...
( Lý Đức Quỳnh )
CÕI THỰC - HƯ?
Sắc sắc – không không cõi thực hư
Vô minh có biết đến răng chừ?
Thân nơi cõi tạm trăm năm ấy
Hồn chốn mây ngàn muôn kiếp như
Mắt ngắm ánh trăng lòng đắm đuói
Tai nghe tiếng gió dạ tương tư
Luân hồi xuôi ngược bao nhiêu nợ?
Sắc sắc – không không cõi thực hư
(Hat Cat)
SỰ ĐỜI THỰC THỰC VỚI HƯ HƯ
AI BIẾT RẰNG ĐÂU CHÂN GIẢ CHỪ?
XUÂN ĐẾN, XUÂN ĐI HẰNG HÓA HÓA
TRĂNG TRÒNG TRĂNG KHUYẾT VẪ NHƯ NHƯ
XUÂN VỀ HOA RỘ MUÔN HÌNH TƯỚNG
TÌNH ĐẤEN Ý SAY VẠN TƯỞNG TƯ
CHO DẪU EM CÙNG XUÂN Ở ĐÓ
ÂU LÀ THỰC THỰC VỚI HƯ HƯ
( Người Nguyên Thủy)
THỤC HƯ NHỊP ĐIỆU
Sương khói ánh nhòa quyện ảo hư
Mơ ươm hạnh ngộ mộng xuân chừ
Vườn tình hiển hiện,chưa cùng với
Ngõ ý thẳm sâu, khó tận như
Trăng nguyện thoát y bày diễm tuyệt
Lòng trơ bó bột nhốt sầu tư
Ngàn dâu xanh hái vàng tơ óng
Điệu vũ Nghê thường nhịp thực hư...
( Lý Đức Quỳnh )
CÕI THỰC - HƯ?
Sắc sắc – không không cõi thực hư
Vô minh có biết đến răng chừ?
Thân nơi cõi tạm trăm năm ấy
Hồn chốn mây ngàn muôn kiếp như
Mắt ngắm ánh trăng lòng đắm đuói
Tai nghe tiếng gió dạ tương tư
Luân hồi xuôi ngược bao nhiêu nợ?
Sắc sắc – không không cõi thực hư
(Hat Cat)
Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013
ĐÁNH CỜ ( họa thơ anh Vũ Giang)
ĐÁNH CỜ
Vũ Giang
Em hẹn tối nay sẽ đấu cờ
Mải chơi quên bẵng rượu và thơ
Thoạt đầu em vội phanh con tịnh
Nước tiếp tôi liền kích pháo vô
Cứ thế pháo xe lừa ngoạn mục
Làm hai đấu thủ mệt bơ phờ
Cuộc tàn mã sĩ bay đi hết
Để tướng hai nhà đứng tớ hơ !
HC họa
Hai đứa chung lưng một cuộc cờ
Rượu vào ngô ngọng vẫy hồn thơ
Tốt đen kỵ mã dương đầu ngược
Pháo đỏ kẹp xe chéo cánh vô
Sĩ đứng co ro nom rã rượị
Tướng nằm dí dị ngó bơ phờ…
Tượng tung vòi cuốn: thôi hòa nhá
Chỏng gọng ghế bàn trống hoắc hơ
Vũ Giang
Em hẹn tối nay sẽ đấu cờ
Mải chơi quên bẵng rượu và thơ
Thoạt đầu em vội phanh con tịnh
Nước tiếp tôi liền kích pháo vô
Cứ thế pháo xe lừa ngoạn mục
Làm hai đấu thủ mệt bơ phờ
Cuộc tàn mã sĩ bay đi hết
Để tướng hai nhà đứng tớ hơ !
HC họa
Hai đứa chung lưng một cuộc cờ
Rượu vào ngô ngọng vẫy hồn thơ
Tốt đen kỵ mã dương đầu ngược
Pháo đỏ kẹp xe chéo cánh vô
Sĩ đứng co ro nom rã rượị
Tướng nằm dí dị ngó bơ phờ…
Tượng tung vòi cuốn: thôi hòa nhá
Chỏng gọng ghế bàn trống hoắc hơ
LẠI MƯA
Lại mưa như mấy ngày qua
Sấm ầm ầm, chớp chói lòa ngõ đêm.
Lá
cành gió giật đảo nghiêng
Thương hoa vàng tả tơi thềm lắt lay…
Một mình ngơ ngác tỉnh say
Rồi mai đây, biết mai đây thế nào?!
Nỗi đau ruột xót, gan bào
Nghiến răng muốn rạch trời cao cho rồi!
Bồn chồn đứng, thẫn thờ ngồi .
Vô tình đất, lạnh lung giời có hay
Nén lòng ngậm đắng nuốt cayThương hoa vàng tả tơi thềm lắt lay…
Một mình ngơ ngác tỉnh say
Rồi mai đây, biết mai đây thế nào?!
Nỗi đau ruột xót, gan bào
Nghiến răng muốn rạch trời cao cho rồi!
Bồn chồn đứng, thẫn thờ ngồi .
Vô tình đất, lạnh lung giời có hay
Biết bao giờ cõi lòng này mới yên?
Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013
MƯA
Mấy năm nay Khu phố HC nhà tôi vắng tiếng ve...
Buồn quá, Mưa hè cũng buồn quá...
Buồn quá, Mưa hè cũng buồn quá...
Mưa
cắc cớ toạc đêm thon thót
Giọt nhỏ to lọt thọt mái tôn
Le te ngọn gió dập dồn
Lòn lòn khe cửa, vờn vờn ngọn cây.
Mưa dây dây sáng ngày dấm dứt
Lá tả tơi phủ phục gốc me
Mưa tuột trôi cả tiếng ve
Đẻ ngơ ngác suốt muà hè, vì đâu?
Mưa hạt hạt trốn sau cuống lá
Mưa ròng ròng nhấp nhóa bầm đen.
Eo ôi! lấm dưới bụi trên
Tỉ ti mưa khóc ưu phiền giọng mưa!
*
Thây kệ mưa, sấm trưa chớp tối!
Mặc đời mưa, lốc vội giông thưa!
Thảnh thơi về với Ngân hà
Mưa lui cui lượm tiếng ve lạc bầy!
Giọt nhỏ to lọt thọt mái tôn
Le te ngọn gió dập dồn
Lòn lòn khe cửa, vờn vờn ngọn cây.
Mưa dây dây sáng ngày dấm dứt
Lá tả tơi phủ phục gốc me
Mưa tuột trôi cả tiếng ve
Đẻ ngơ ngác suốt muà hè, vì đâu?
Mưa hạt hạt trốn sau cuống lá
Mưa ròng ròng nhấp nhóa bầm đen.
Eo ôi! lấm dưới bụi trên
Tỉ ti mưa khóc ưu phiền giọng mưa!
*
Thây kệ mưa, sấm trưa chớp tối!
Mặc đời mưa, lốc vội giông thưa!
Thảnh thơi về với Ngân hà
Mưa lui cui lượm tiếng ve lạc bầy!
Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012
CÁI CHUM
CÁI CHUM
Tìm gỉ, tìm gì? Chàng ơiChả còn cái gì ở đấy!Gói muối, củ gừng hôm ấyĐâu như cất cả trong chum!... À mà, để thiếp nhớ xemCái chum... hình như mang gánĐận mà thuyền chàng mắc cạnNeo ngược phía bên kia bờ.Hôm ấy trời lâm thâm mưaLoăng quăng chàng nhầm bè vóLàng họp quan viên ngả vạBắt mang chum đại ra đền.Chàng đổ là tại trời đêmLều nào cũng phên liếp ấyCái thứ " chó treo, mèo đậy"Mà đây thì cứ tơ hơ......Nín hơi kéo kéo... đu đu ...Quờ quờ... cá đây cua đấy!Trên: bưởi phao căng mây mẩyDưới: lưới tơ mịn mịn tay.Oằn lưng cất vó suốt ngàyLơ mơ thuốc lào dăm điếuTối đen... lần mò mép chiếuNào hay chân ải, chân ai...?....Người ta khen chàng cãi tàiThiếp thì bầm gan tím ruột.Từ khi chum về nhà khácVơi đầy bao bận nước mưa?!
ĐẶT LỜ
ĐẶT LỜ
Trẻ nhỏ đồng chiêm đi đặt lờ
Bóng lờ thấp thoáng dưới rong mơ
Thân lờ lấp lửng xiên tre đực
Đơm cá cắm lờ sát mép bờ
Hom cứng lờ to đơm cá lớn
Mắt dầy nan cật được cua to
Mỗi năm cứ đến mùa mưa lụt
Khắp cánh đồng chiêm rặt những lờ…
NHỚ
06:04 19 thg 8
2012Công khai25 Lượt xem 5
Nhớ đến ngẩn ngơ, đến cháy lòng
Xa xôi đây - đó mấy con sông?
Giấc khuya chợt tỉnh cơn mưa tạt
Làn gió bập bùng ngọn nến hồng
Tình cũ dạt dào lay giấc mộng
Bóng xưa ẩn hiện ánh trăng lồng
THU ( họa thơ bác VG)
Nhớ
Nhớ đến ngẩn ngơ, đến cháy lòng
Xa xôi đây - đó mấy con sông?
Giấc khuya chợt tỉnh cơn mưa tạt
Làn gió bập bùng ngọn nến hồng
Tình cũ dạt dào lay giấc mộng
Bóng xưa ẩn hiện ánh trăng lồng
Ai
nơi xa ấy vui buồn nhỉ?
Ai ở chốn này ngập nhớ mong …
Ai ở chốn này ngập nhớ mong …
THU ( họa thơ bác VG)
Bỗng chốc ào ào muôn lá rơi
Hóa ra thu đến tự xa vời
Sấu chua lúc lỉu chen cành lá
Bông Cúc thơm thơm quyện áo người
Chim hạc chờ Thu tung cánh trắng
Rồng xanh tiễn Hạ cuốn mây trời
Hạ đi, thu đến ... ai nghênh tiếp?
Chỉ thoáng bên tai Thu gọi: ơi...!
NẢN ( họa thơ BÌNH NGUYÊN)
Đứng nhé ai ơi chớ chán chường
Vẫn còn muôn vạn mối tơ vương
Mặc người đấu đá đinh tai óc
Thây bọn đua chen đứng chật đường
Cướp của, giết người phường bất nghĩa
Giả nhân giả nghĩa kẻ vô lương
Trời cao không phụ người tâm đức
Đừng nhé, ai ơi, chớ chán chường!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
